Coxib là nhóm thuốc kháng viêm mới, ức chế chuyên biệt
emzym cyclooxygenase-2 (COX-2), được chứng minh là có tác dụng tốt trong việc
làm giảm triệu chứng đau và viêm trong bệnh lý thoái hóa khớp, ít nguy cơ gây
loét và chảy máu dạ dày hơn các kháng viêm không-steroid thông thường. Tuy
nhiên, trong một số thử nghiệm lâm sàng mới đây, một số trong nhóm thuốc này có
thể làm tăng một số tác dụng phụ trên tim mạch khi sử dụng dài ngày hoặc trên
các đối tượng BN có nguy cơ (tiền sử và hiện tại có các bệnh tim mạch). Vì vậy
các nhà sản xuất đã lần lượt chủ động rút khỏi thị trường một số sản phẩm của
nhóm coxib (rofecoxib, valdecoxib, parecoxib).
Celecoxib là thuốc đầu tiên của nhóm coxib, đã có mặt ở
thị trường từ cuối năm 1998. Sau trên 6 năm sử dụng, celecoxib đã thể hiện tính
an toàn trên đường tiêu hóa hơn hẳn các thuốc kháng viêm không-steriod thông
thường. Thuốc đang được sử dụng cho những trường hợp có chỉ định ( viêm khớp,
thoái hóa khớp …) với sự cân nhắc giữa lợi ích của hiệu quả điều trị và các
nguy cơ có thể xảy ra, với liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn
nhất theo như khuyến cáo của FDA và Bộ Y tế Việt Nam. Để có thể biết rõ hơn về
liều thấp nhất có hiệu quả giảm đau, thời gian thích hợp cho mỗi đợt điều trị,
cũng như tìm hiểu tác dụng phụ của thuốc trên đối tượng BN, chúng tôi đã theo
dõi quá trình điều trị bằng celecoxib ở một số BN bị thoái hóa khớp tại Khoa
Nội Cơ Xương Khớp, BV Chợ Rẫy.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hiệu quả
lâm sàng và tính an toàn của Coxlec (Celecoxib) là sản phẩm mới của Công ty ICA
Pharmaceuticals (với nguyên liệu nhập từ Mỹ, sản xuất theo công nghệ Châu Âu)
để làm giảm các triệu chứng đau và viêm trên BN thoái hóa khớp gối, đạt các
tiêu chuẩn qui định cho thử nghiệm lâm sàng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng nghiên cứu: 50 bệnh nhân (Bị thoái hóa khớp gối nguyên phát (idiopath osteoarthitis)Thời gian tiến hành: từ 12/2004 đến 03/2005.Tiêu chuẩn lựa chọn:BN phù hợp với "Tiêu chuẩn chẩn đoán Lâm sàng và X-quang" (Altma R., Asch E., Bloch G al.1986) với độ nhạy 91%, độ đặc hiệu 86%, bao gồm các tiêu chuẩn sau:+ Đau khớp gối khi vận động.+ Kèm ít nhất 1 trong 3 tiêu chuẩn sau: 1. Tuổi > 50. 2. Cứng khớp buổi sáng < 30 phút. 3. Lạo xạo khi cử động khớp gối.+ X-quang có hình ảnh gai xương, hẹp khớp ở khớp gối.+ Tốc độ lắng máu < 40 mm.Tiêu chuẩn loại trừ:+ Phụ nữ có thai, cho con bú.+ Có các bệnh lý khớp do viêm khác: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp gout...+ Viêm loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, gan, thận, tim nặng.+ Thoái hóa khớp nặng (cần thay khớp gối nhân tạo).+ Đang có các bệnh lý tim mạch, chưa kiểm soát được (tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim, tai biến mạch máu não).2. Phương pháp nghiên cứu:- Các BN được điều trị trong thời gian 2 tháng.- Liều lượng thuốc Coxlec 200mg hàng ngày, trong những trường hợp đặc biệt có thể dùng 200mg x 2 lần/ngày.- Các thời điểm đánh giá: Trước điều trị (T0), sau 1/2 tháng (T1), sau 1 tháng (T2) và sau 2 tháng
(T3).- Hiệu quả được kiểm định theo các mặt: 1. Sự dung nạp thuốc. 2. Tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, hệ tim mạch (ICG trước và sau điều trị, huyết áp, các biến cố nếu có) và các tác dụng phụ khác: gan, thận, hô hấp. 3. Hiệu quả điều trị: đánh giá trên các chỉ số: * Thang điểm tương đồng trực quan (Huskisson Visual Analog Score – VAS): thang điểm đau từ 0 đến
100 mạch máu. * Thời gian đi bộ (đường bằng phẳng) 50 mét (tính bằng giây).KẾT QUẢ1. Đặc điểm bệnh nhân (BN)- Tuổi trung bình của cả 2 giới: 61,34 (47-80) + Nam: 9 BN (18%). Tuổi trung bình: 64,00 + Nữ: 9 BN (18%). Tuổi trung bình: 64,00 + Tỉ lệ nữ/nam: 4,5/1- Cân nặng trung bình: 59,44 kg 23<BMI<25: 5 BN (chiếm 10%) BMI>25: 34 BN (68%)2. Kết quả được ghi nhận như sau:- Độ nặng của BN trong lần thăm khám đầu tiên: * Rất nặng: 2 trường hợp (chiếm tỷ lệ 4%) * Nặng: 32 trường hợp (64%) * Vừa: 16 trường hợp (32%) * Nhẹ: trường hợp- Sự thay đổi chỉ số VAS (Visual Analog Score) sau 2 tháng điều trị:
Biểu đồ 1:
Biểu đồ 1: Sự thay đổi chỉ số VAS sau 2 tháng điều trị
Ghi chú: T0: Trước điều trị, T1: Sau điều trị 1/2 tháng, T2: Sau điều trị 1
tháng, T3: Sau điều trị 2 tháng. Như vậy, sau các thời điểm điều trị 1/2 tháng, 1 tháng và 2 tháng, điểm số
đau VAS đã giảm từ 77,6 xuống 58,68 (sau 1/2 tháng), 43,96 (sau 1 tháng) và 25,56
(sau 2 tháng).- Sự thay đổi thời gian đi bộ sau 2 tháng điều trị:Biểu đồ 2:
Biểu đồ 2: Sự thay đổi thời gian đi bộ sau 2 tháng điều trị

Như vậy, sau 2 tháng điều trị, thời gian đi bộ quãng đường 50m của các BN giảm đi rõ rệt, từ 140 giây, còn 104 giây (sau 1/2 tháng), 86,8 giây (sau 1 tháng) và 74,6 sau 2 tháng
Sự thay đổi 2 chỉ số trên chứng tỏ thuốc có hiệu lực giảm đau và cải thiện khả năng vận động.
- Sự thay đổi và tác dụng phụ
Sự dung nạp thuốc: thuốc đựơc dung nạp tốt trên
tất cả các BN trong nghiên cứu (50/50).
Tác dụng phụ:
Trên đường tiêu hóa:
+ Đa số là các tác dụng phụ nhẹ: có 7 trường hợp đầy bụng (14%), 7 trường hợp chậm tiêu (14%). Các triệu chứng này xảy ra rải rác trong quá trình điều trị, đa số tự hết không cần can thiệp điều trị, mặc dù BN vẫn được tiếp tục dùng thuốc.
+ Có 8 BN có đau nhẹ vùng thượng vị (16%). Triệu
chứng này xảy ra rải rác trong quá trình điều trị, đa số tự hết không cần can
thiệp điều trị, mặc dù BN vẫn được tiếp tục dùng thuốc nhưng được dặn kỹ cách
uống thuốc.
+ Không có BN nào bị các biến cố: xuất huyết tiêu
hóa, thủng dạ dày ...
+ Không có BN nào phải ngưng thuốc trong quá trình điều trị vì các tác dụng phụ của thuốc.
Trên hệ tim mạch:
+ Không có sự thay đổi đáng kể trên ECG trước và
sau điều trị trên tất cả các BN nghiên cứu.
+ Không có sự thay đổi đáng kể về huyết áp trước
và sau điều trị trên tất cả các BN nghiên cứu.
+ Không ghi nhận trường hợp nào có các biến cố tim
mạch: đau ngực, nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.
Các tác dụng phụ ở các cơ quan khác: Không ghi nhận.
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, BN nữ chiếm
tới 82% và BN có BMI > 23 là 78%. Những đặc điểm này phù hợp với đặc điểm
chung của thoái hóa khớp gối nguyên phát là thường gặp hơn ở nữ, sau tuổi mãn
kinh và thường có kèm yếu tố dư cân và béo phì. Tuổi, giới và dư cân hay béo
phì đã được coi là các yếu tố nguy cơ quan trọng của thoái hóa khớp gối nguyên
phát.
Việc dung nạp thuốc của các BN
đều tốt, thuốc chỉ cần dùng một liều duy nhất nên các BN đều tuân thủ điều trị.
Về các tác dụng phụ của thuốc:
Không ghi nhận đựơc các biểu hiện
nặng ở đường tiêu hóa như: đau vùng thượng vị, xuất huyết tiêu hóa, hay thủng
dạ dày trong quá trình điều trị. Đây được cho là ưu điểm nổi bật của thuốc, vì
thuốc được dùng liên tục, khá dài ngày (tới 60 ngày), trên nhóm đối tượng BN có
tuổi (trung bình là 61,34). Các tác dụng phụ nêu trên đều xảy ra không thường
xuyên, không liên quan tới thời gian dùng thuốc, không cần điều trị.
Trước, trong và sau quá trình
điều trị, các BN đều được đo huyết áp và làm ECG. Chúng tôi nhận thấy, không có
sự thay đổi đáng kể trên 2 chỉ số này. Trong suốt 2 tháng điều trị, cũng không
ghi nhận bất cứ một biến cố gì dù nhỏ liên quan đến tim mạch (đau ngực, mệt,
tai biến mạch vành hoặc mạch não). Điều này hòan toàn phù hợp với nhiều nghiên
cứu mới đây về ảnh hưởng tim mạch của các thuốc kháng viêm không–steroid nói
chung và của celecoxib nói riêng. Celecoxib đang được coi là một trong các
thuốc kháng viêm ít tác động xấu lên hệ tim mạch.
Về hiệu quả điều trị:
Với tác dụng kháng viêm giảm đau,
thuốc đã làm thay đổi rõ rệt mức độ đau của các BN (Biểu đồ 1) ngay từ lần đánh
giá đầu tiên và sau đó, ở các lần đánh giá tiếp sau. Các thay đổi này đều có ý
nghĩa thống kê với P<0,05.
Tương ứng với sự cải thiện mức độ
đau, là sự cải thiện khả năng vận động thông qua thời gian đi bộ của người bệnh
(Biểu đồ 2). Thời gian đi quãng đường dài 50m đã rút ngắn dần từ 140,8 giây
(T0) xuống 104,2 giây (T1), 86,8 giây (T2) và 74,6 giây (T3). Các thay đổi này đều
có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
KẾT LUẬN
Coxlec®, mỗi viên chứa
200 mg celecoxib thuốc kháng viêm, ức chế chuyên biệt enzym cyclooxygenase-2
(COX-2), ở liều dùng 1 viên mỗi ngày có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng
đau và viêm, cải thiện chức năng vận động cho 50 BN thoái hóa khớp gối được
điều trị và theo dõi liên tục 2 tháng tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả theo dõi
cho thấy Coxlec® được dung nạp tốt, ít phản ứng phụ đường tiêu hóa
và nếu có thì các phản ứng phụ không nghiêm trọng. Thuốc không gây một sự thay
đổi nào đáng kể trên huyết áp và điện tâm đồ, đồng thời cũng không ghi nhận các
biến cố tim mạch dù nhỏ trong suốt quá trình điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cohen M.L, Richter
M.B.Arthritic Patients. Can We Manage Without NSAIDs / Medical Progress Vol. 22
No 12 December 1995.
2. Pairet M.Inhibition of Cyclooxynase-1 and Cyclooxynase-2.
Analysis of In Vitro Test Systems and Their Clinical Relevance. Journal of
Rheumatology Vol 4 No 5 October 1998.
3. Forre O., Hassfeld W.G., Haugen M. Future Treatment Possibilities
in Rheumatoid Arthritis. Rheumatoid Arthritis Treatment Workshop. Sweden 241-270,
1999.
4. Rhame E., Marentette
M.A., Kong S.X., Le Lorier J. Gastrointestinal Complications Associated with
Rofecoxib/Celecoxib and Nonselective NSAIDs: Analysis of the Govement Claims
Database in Quebec Canada. The Third International
Symposium on Clinical and Economic Aspects of Osteoarthritis and Osteoporosis –
Barcelona, Spain. Nov 2002.
5. G et al. UGI
hospitalizations per 100.000 NSAIDs prescriptions in US. Poster to be presented
at EULAR Berlin, Germany 9-12,2004.
6. Hall S.COX 2: What’s
the story. Evidence of COX 2 Cardiovascular effects Choray Hospital,
18 November 2004.
7. Mason R.P Role of COX
2 inhibitors on mechanisms of cardiovascular disease a molecular perspective. New
perpectives on COX 2 specific inhibitors COX 2 Cardiovascular Conference. Bangkok, Thailand
25 November 2004.
8. Krum H.Cardio – renal
safety of COX 2 specific inhibitors. An oveview of the recent data. New
perpectives on COX 2 specific inhibitors. COX 2 Cardiovascular Conference. Bangkok, Thailand
25 November 2004.
9. Marie Hudson, Hugues Richard, Lourise Pilote.
Differences in outcomes of patients with congestive heart failure prescribed
celecoxib, rofecoxib or non-steroidal anti-inflammatory drugs population based
study. BMJ Volume 330, 11 June 2005.
" LÊ ANH THƯ"